Thần khải Nam Quốc Sơn Hà

Con kính xin đảnh lễ Tổ Thầy,
Em kính lễ anh Đông Quân,

Trong lúc rãnh rỗi, con có đọc các quyển sách của tác giả Lobsang Rampa, người tự xưng là hoá thân của Đạt Lai Lạt Ma, các quyển sách của David Neel viết về Tây Tạng, và các sách sử viết về bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.
Nam quốc sơn hà
Sau khi đọc xong toàn bộ mà vẫn không có câu trả lời về nguồn gốc bài thơ, thì chư vị xuất hiện và cho con thấy linh ảnh về cuộc chiến tranh Đại Việt – Đại Tống thời Lý, đầu thế kỷ 11. Trong linh ảnh là trận chiến ác liệt bên bờ sông, và trong kinh đô thì vua nhà Lý cùng các quan viên đại thần làm lễ cầu khấn Trời Đất xin cho Đại Việt được thắng trận. Trong lúc vị sư ông, chủ tế lễ, dâng sớ lên Thiên Đình thì con lại thấy linh ảnh chư vị Bồ Tát, Thánh thần từ hư không xuất hiện vô cùng tráng lệ và rực rỡ. Hai vị mặc đồ xanh lá và đỏ bước ra, nhận lấy tấu sớ, và sau đó giở một cuốn sổ lưu trữ phước nghiệp của nước Đại Việt. Linh ảnh đến đó thì hết.

Con nghe chư vị nói: “Con có ngồi đọc sách thêm 10 năm nữa cũng không thể nào tìm ra được người sáng tác bài thơ này đâu. Sử sách đời sau có chỗ ghi là do Lý Thường Kiệt viết nên, có chỗ ghi là không rõ nguồn gốc, lại còn có chỗ ghi là xuất phát từ nước Tống… Cho con thấy một vài linh ảnh về thời kì đó để con tự hiểu ra được nguồn gốc bài thơ. Có vay thì phải có trả, nạn binh đao cũng do một phần nghiệp mà Đại Việt thời đó phải trả.

May mắn thay, vua quan nhà Lý thương dân như con, trước lo sửa mình, thờ kính Trời Đất, sau là răn người, sống hợp lẽ đạo; lại có thêm được bậc chân tu, đắc quả Thiên Đình cùng dâng tấu sớ, xin được giảm nghiệp. Xét thấy một đất nước mà vua quan biết thờ kính Thượng Đế, quá nửa số dân biết lo sửa mình, lại thêm bậc chân tu được lòng Thượng Đế, nên có lệnh ban xuống cho phép được giảm nghiệp, thoát nạn binh đao trong hơn 200 năm. Bài thơ Thần đó là thư trả lời của Thiên Đình cho vị đạo sư tế lễ Từ Đạo Hạnh, được đọc vang trong đêm khiến quân Tống run rẩy mà bỏ chạy.

Sẵn đây nói thêm một chút về việc xin gia giảm nghiệp quả. Người cầu xin phải là bậc đắc đạo do Thiên Đình sắc phong, chứ không phải là mũ mão áo lộng, danh hiệu của thế gian. Những bậc đắc đạo cũng không thể nào tự mình đứng ra cầu nguyện cho quốc thái dân an được, mà phải có sự phối hợp của vua quan và nhân dân. Luật công bằng là quả ai người đó nhận, không có chuyện hoán đổi hay nhận dùm.

Nếu một đất nước mà vua quan biết làm tròn bổn phận của mình, quá nửa số dân trong nước biết sống hợp đạo, thờ kính Thượng Đế thì vị đạo sư mới mong giúp cho được. Nếu thiếu đi một trong ba điều kiện thì cũng không được. Nghe thì khó, nhưng không phải là không thể. Lịch sử đã có, thì hiện tại hay tương lai cũng có thể xảy ra được.

Sở dĩ bảo con đọc các tạng thư về Lạt ma giáo là cho con hiểu rõ được bài học hôm nay. Tây Tạng, Cao Miên, Tích Lan thời trước là trung tâm của đạo giáo, là nơi xuất hiện các bậc chân tu nhiều huyền năng. Bởi lẽ như vậy, Tây Tạng mới có được thời đại hoàng kim vào các đời Đạt Lai Lạt Ma trước. Trải ngàn năm phát triển, đạo giáo ở đó chạy theo hình thức bề ngoài, bỏ bê cốt lõi bên trong, mà các Đạt Lai Lạt Ma cũng không còn được như trước, chỉ biết chạy theo dục vọng xa hoa và các hình thức bên ngoài như đền đài, miếu mạo, mũ áo.

Đã vậy lại không biết thân biết phận, bắt chước các bậc đạo sư đời trước, đứng ra cầu khấn Thượng Đế cho quốc gia được hùng mạnh, vượt qua kì thế chiến. Đáng lẽ Tây Tạng chưa có mất nước nhanh vậy, nhưng do Thượng Đế nổi giận, thúc đẩy quá trình trả nghiệp mà thành ra mất nước, Hồng Cung và Bạch Cung thành khu triễn lãm, nhân dân nghèo đói, đất nước lạc hậu, cốt ý là răn đe những người tu hành đời sau, nhưng nào có mấy ai hiểu. Giờ đây cái còn lại chỉ là cái vỏ và bộ máy tuyên truyền.

Lý đạo ta dạy con không có gì cao, chỉ là ôn lại bài cũ, mỗi ngày hiểu ra một tầng nghĩa mới, cho đến khi chạm được cốt lõi. Bám theo Tổ Thầy học Đạo mới mong có ngày chứng quả.”

Con kính xin đội ơn Tổ Thầy đã truyền dạy Đạo cho con.
Em kính xin cảm ơn anh Quân đã luôn theo sát chỉ dạy cho em.

Nguồn: vutruhuyenbi.com

Add Comment